English
 


Lượt truy cập
00233597
Báo chí nói về công ty
Cổ phiếu mới Xi măng Sài Sơn: nhỏ nhưng tương đối hiệu quả
Thứ tư, 19/9/2007, 06:08 GMT+7

(ATPvietnam.com) - Ngày 19/9, Trung tâm GDCK Hà Nội đón chào 2.774.200 cổ phiếu của Công ty cổ phần Xi măng Sài Sơn, chính thức được giao dịch với mã chứng khoán SCJ.

Đây là doanh nghiệp thứ 4 trong lĩnh vực sản xuất xi măng thực hiện niêm yết cổ phiếu tại HASTC và là cổ phiếu thứ 5 lên sàn Hà Nội từ đầu năm tới nay. SCJ trở thành cổ phiếu thứ 90 giao dịch tại sàn Hà Nội.

Vài nét chính về công ty

Công ty cổ phần xi măng Sài Sơn có vốn điều lệ 27,7 tỷ đồng  đóng tại Xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Điện thoại: 034.679378-679375; Fax: 034.679379; Email : Saison@ximangsaison.com

Phạm vi lĩnh vực hoạt động của Công ty bao gồm: Sản xuất và kinh doanh xi măng, clinker, vật liệu xây dựng, xây lắp các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi; san lấp mặt bằng.

Công ty Cổ phần Xi măng Sài Sơn tiền thân là Xí nghiệp Xi măng Sài Sơn được thành lập từ ngày 28/11/1958 dưới sự quản lý của Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là cơ sở sản xuất xi măng lò đứng đầu tiên của Việt Nam và là cơ sở sản xuất xi măng thứ hai của Việt Nam sau xi măng Hải Phòng.

Danh sách Cổ đông nắm trên 5% vốn Cổ phần (thời điểm 31/05/2007)

TT

Cổ đông nắm trên 5% vốn

Số cổ phần

Giá trị

(đồng)

Tỷ trọng trong tổng vốn điều lệ (%)

1

Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn NN (SCIC)

481.340

4.813.400.000

17,35

2

Nguyễn Văn Bổng

164.600

1.646.000.000

5,93

 

Tổng cộng

645.940

6.459.400.000

23,28

Vị thế của Công ty trong ngành

* Triển vọng ngành xi măng: tiếp tục tăng trưởng cao và ổn định

Theo đánh giá của Hiệp hội xi măng lò đứng thì xi măng Sài Sơn là một trong những đơn vị kinh doanh có hiệu quả nhất, có môi trường làm việc tốt nhất trong toàn bộ 58 nhà máy xi măng lò đứng trên toàn quốc.

Sản phẩm của Công ty được sử dụng rộng rãi tại Hà Tây và các tỉnh lân cận. Hà Tây hiện có 2 nhà máy sản xuất xi măng là Nhà máy xi măng Sài Sơn (của Công ty cổ phần Xi măng Sài Sơn) với công suất 220.000 tấn xi măng/năm, nhà máy xi măng Tiên Sơn có công suất từ 120.000 tấn đến 150.000 tấn xi măng/năm và 03 trạm nghiền khoảng 250.000 tấn xi măng/năm (Trong đó có 1 trạm nghiền của công ty thuê của Công ty Bê tông Xuân Mai là 150.000 tấn/năm).

Sản phẩm xi măng pooclăng hỗn hợp PCB30 Sài Sơn và PCB40 Nam Sơn của Công ty thích hợp cho việc xây dựng các công trình dân dụng, cầu cảng, đường xá, các toà nhà cao tầng, các công trình ngầm…, và là kết cấu chịu lực chính của các công trình lớn.

Một số nét đáng chú ý trong hoạt động kinh doanh

Công ty đang sản xuất các sản phẩm chính là xi măng pooclăng hỗn hợp PCB 30 Sài Sơn và PCB 40 Nam Sơn theo TCVN 6260-1997. Sản phẩm được sản xuất theo công nghệ bán khô lò đứng cơ giới hoá của Trung Quốc với công suất hai dây chuyền là 120.000 tấn xi măng/năm được đặt tại xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây. Ngoài ra, Công ty có 01 trạm nghiền xi măng tại Chương Mỹ, Hà Tây với công suất là 150.000 tấn xi măng/năm.

Năm 2006, Công ty sản xuất và tiêu thụ 257.000 tấn xi măng và năm 2007 dự kiến sản xuất và tiêu thụ 300.000 tấn xi măng các loại chủ yếu trên địa bàn tỉnh Hà Tây, Hà Nội và khu vực lân cận.

Nhìn chung giá nguyên vật liệu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận công ty do chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng từ 65% đến 70% tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí lớn nhất trong sản xuất xi măng là chi phí về điện và chi phí về than mà hai ngành này đều do nhà nước quản lý và điều tiết, nếu chi phí này tăng thì tất yếu sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí và lợi nhuận.

Giá vốn hàng bán là chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh của Công ty, chiếm 90,66% tổng chi phí trong năm 2004, 91,92% trong năm 2005 và 92,93% trong năm 2006. Trong thời kỳ 2004-2006, tỷ trọng giá vốn hàng bán/tổng chi phí tăng nhẹ. Tỷ trọng giá vốn hàng bán/tổng chi phí có xu hướng tăng do giá các yếu tố đầu vào như chi phí nguyên vật liệu, giá điện tăng.

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý trong giai đoạn 2004-2006 có xu hướng giảm nhẹ. Chi phí bán hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí sản xuất của công ty do Công ty đã có nền khách hàng tương đối ổn định nên chi phí bán hàng cũng duy trì ở mức ổn định.

Năm 2005 là năm Công ty có tốc độ tăng trưởng lớn, đặc biệt về doanh thu và lợi nhuận, Tổng lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2005 tăng 32,14% so với năm 2004, doanh thu tăng 11,04%. Năm 2006, doanh thu tăng với tốc độ mạnh hơn, tăng 25,28% so với năm 2005.

Sự tăng trưởng về doanh thu của Công ty trong năm 2005 và 2006 do các yếu tố: Áp dụng sáng kiến, cải tiến công nghệ sản xuất, Đầu tư thêm máy móc, thiết bị, Áp dụng các biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, Phát triển hiệu quả mạng lưới tiêu thụ.

Chính sách giá - tôn chỉ nổi bật của Xi măng Sài Sơn

Những năm gần đây, công nghiệp xi măng nói chung và xi măng vừa và nhỏ nói riêng phát triển rất mạnh mẽ, sự cạnh tranh trên thị trường rất quyết liệt. Để tồn tại và phát triển, ngoài việc phải đưa ra loại sản phẩm có chất lượng tốt, Công ty phải tập trung tìm mọi cách để giá bán sản phẩm phải thấp hơn sản phẩm cùng loại tạo nên sức cạnh tranh lớn .

Để có giá cạnh tranh, Công ty phải áp dụng mọi biện pháp để hạ giá thành sản phẩm. Ngoài việc duy trì có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng ISO:9001 và hệ thống nội quy, quy chế nhằm kiểm soát chặt chẽ giá cả, số lượng, chất lượng nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, lãnh đạo Công ty còn đặc biệt quan tâm đến việc đề ra các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật phù hợp, phát động và khuyến khích phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất máy móc thiết bị, tiết kiệm nhiên liệu và chi phí động lực, có chính sách tiền lương, tiền thưởng hợp lý để tạo đòn bẩy kích thích người lao động nhằm nâng cao năng suất lao động.

Vì vậy, giá bán của sản phẩm được khách hàng chấp nhận vá mang tính cạnh tranh. Ví dụ, giá 1 tấn PCB30 đóng bao của Công ty hiện nay là 590.000 đồng trong khi giá bình quân thị trường là 755.000 đồng (Giá thị trường tham khảo tháng 7/2007).

Phân tích các chỉ tiêu tài chính cơ bản

Các chỉ tiêu tài chính của Công ty (tại thời điểm 31/12/2006)

Chỉ tiêu về khả năng thanh toán

2004

2005

2006

- Hệ số thanh toán ngắn hạn=TSLĐ/Nợ ngắn hạn

1,65

3,28

2,43

- Hệ số thanh toán nhanh=(TSLĐ-Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn

1,36

2,81

2,22

Qua bảng trên có thể thấy, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tương đối ổn định qua các năm. Khả năng thanh toán của công ty khá tốt.

Cụ thể hệ số thanh tóan ngắn hạn tăng mạnh tăng từ 1,65 lần vào năm 2004 lên 3,28 lần vào năm 2005, đến năm 2006 giảm hơn năm 2005 đạt có 2,43 lần bởi vì trong năm 2006 công ty huy động vốn cho các dự án lên tận dụng nguồn vốn vay. Hệ số thanh toán nhanh của công ty tăng từ 1,36 lần vào năm 2004 lên 2,81 lần vào năm 2005 và 2,22 lần vào năm 2006.

Như vậy, có thể nhận thấy công ty luôn chủ động về các khỏan thanh toán của công ty, khả năng thanh khoản nói chung là ổn định. Vì thế công ty chủ động về doanh mục đầu tư kinh doanh của công ty.

Chỉ tiêu về cơ cấu vốn

2004

2005

2006

- Hệ số nợ/Tổng tài sản

0,36

0,22

0,30

- Hệ số nợ/Vốn chủ sở hữu

0,61

0,31

0,44

Các hệ số trong chỉ tiêu về cơ cấu vốn của công ty chưa được cải thiện nhiều cụ thể hệ số nợ /tổng tài sản trong năm 2004 đạt 0,36 lần và trong năm 2005 giảm chỉ có 0,22 lần nhưng trong năm 2006 tăng hơn so với năm 2005 cụ thể đạt 0,30 lần.

Còn về hệ số nợ /vốn chủ sở hữu thì giảm nhanh cụ thể vào năm 2004 đạt 0,61 lần giảm nhanh xuống 0,31 lần và đến năm 2006 thì đạt 0,44 lần tuy không cải thiên hơn so với năm 2005 nhưng so với năm 2004 được cải thiện nhiều bởi vì công ty đầu tư vào các dự án và đầu tư nâng cấp cải thiên sản phẩm.

Chỉ tiêu về năng lực hoạt động

2004

2005

2006

- Vòng quay hàng tồn kho

14,70

11,51

17,59

- Doanh thu thuần/tổng tài sản

2,14

1,72

1,44

Qua bảng trên có thể thấy, vòng quay hàng tồn kho năm 2006 cải thiện nhiều so với năm 2004 và năm 2005, như vậy thấy công ty có được sự quản lý và chu trình kinh doanh tốt công ty cải thiện tình hình ứ động vốn cũng như chiếm dụng vốn kinh doanh.

Tuy nhiên hệ số doanh thu thuần /tổng tài sản thì không được cải thiện vì công ty tăng tài sản.

Phân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi

Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi

2004

2005

2006

- Hệ số lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần

0,21

0,25

0,14

- Hệ số lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu

0,77

0,58

0,29

- Hệ số lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản

0,45

0,42

0,20

- Hệ số lợi nhuận từ HĐKD/Doanh thu thuần

0,23

0,25

0,16

Các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi năm 2006 giảm so với năm 2005 do lợi nhuận sau thuế năm 2006 giảm so với 2005 (năm 2005 công ty được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp sau cổ phần hoá). Mặt khác do năm 2006, Công ty tập  trung mở rông thị trường, xây dựng thương hiệu mới nhằm mục đích đón đầu dự án sản xuất clinker của Công ty.

Với việc mở rộng sản xuất này, Công ty phải mua toàn bộ clinker lò quay về chế tạo xi măng PCB30, PCB40; do đó tăng trưởng về doanh thu năm 2006 rất cao song lợi nhuận không tăng tương ứng.

Lợi nhuận sau thuế quý I năm 2007 tương đối khả quan, đạt 31% kế hoạch 2007.

Triển vọng cổ phiếu SCJ

Doanh thu các loại sản phẩm của công ty trong những năm gần đây không ngừng được tăng trưởng với mức độ bình quân khoảng 20 đến 30%/năm và dự kiến trong những năm tiếp theo vẫn giữ được mức 20% đến 30% đối với sản phẩm truyền thống và mức 30% đến 40% đối với sản phẩm mới xi măng Nam Sơn PCB 40. Doanh thu thuần của công ty trong các năm gần đây cũng tăng trưởng đều đặn (năm 2005 tăng 11,4% so với 2004 và năm 2006 tăng 25,28% so với năm 2005).

Trong giai đoạn 2007-2010, Công ty CP Xi măng Sài Sơn đặt ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng bình quân/năm của sản lượng sản phẩm toàn Công ty đạt trên 10% một năm. Điều này phù hợp với chiến lược phát triển của Chính phủ và của ngành đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Theo quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Hà Tây đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã được UBND tỉnh Hà Tây phê duyệt tại quyết định số 2103 QĐ/UB ngày 25/9/2005, sản lượng sản xuất xi măng trong tỉnh trong năm 2005 chỉ đáp ứng hơn 50% nhu cầu xi măng trong tỉnh. Mặt khác trong định hướng phát triển đô thị giai đoạn 2010 - 2020 thì khu vực Miếu Môn, Xuân Mai, Hoà Lạc, Sơn Tây, Quốc Oai sẽ là các khu đô thị, công nghiệp trọng điểm của miền Bắc.

Việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị trên sẽ làm cho nhu cầu sử dụng xi măng trong khu vực sẽ tăng cao trong những năm tới mà năng lực sản xuất xi măng trong tỉnh còn đang hạn chế. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng về thị trường của Công ty.

Chính sách cổ tức của công ty đảm bảo quyền lợi cho cổ đông và khả năng mở rộng sản xuất và tăng trưởng trong tương lai, tỷ lệ cổ tức năm 2006 là 24% mệnh giá cổ phiếu. Kế hoạch cổ tức trong các năm 2007-2009 tương ứng giữ ổn định là 24%.

Kế hoạch cổ tức những năm tới (Đơn vị: tỷ đồng)

Chỉ tiêu

2004

2005

2006

2007

2008

2009

Vốn điều lệ

11,74

11,74

11,74

27,70

42,74

42,74

Doanh thu thuần

96,51

107,16

134.26

161,20

201,78

258,29

LNST

20,04

26,48

18.77

19,25

30,154

44,318

LNST/DTT (%)

20,76

24,71

13,98

11,94

14,94

17,15

LNST/VCSH (%)

69.03

54,43

28,9

24,48

27,32

30,6

Cổ tức (%) - - 24 24 24 24

Nhìn chung, qua phân tích các chỉ tiêu tài chính, các hệ số sinh lời và các yếu tố liên quan, có thể thấy Công ty cổ phần Xi măng Sài Sơn là doanh nghiệp tuy hoạt động với quy mô nhỏ nhưng tương đối hiệu quả.

ATPvietnam

Các tin khác
Print In trang này Send your friend Gửi cho bạn bè


Bản quyền thuộc Công ty CP Xi măng Sài Sơn
Địa chỉ: Xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây; Điện thoại: 034. 679377

Email:
saison@ximangsaison.com